Vai trò của rau xanh đối với sức khỏe của người Việt

Vai trò của rau xanh đối với sức khỏe của người Việt

25/02/2021 0 Phạm Thanh 313
6 phút, 4 giây để đọc.

Rau xanh là thành phần thiết yếu trong bữa ăn của người Việt. Ngoài việc sử dụng chất xơ; nó còn có thể tăng cường tiêu hóa và giảm hấp thụ chất béo. Nhiều loại rau xanh quen thuộc; cũng có giá trị sử dụng như một loại rau thơm có lợi cho sức khỏe.

Các loại rau tươi của nước ta rất phong phú. Nhìn chung ta có thẻ chia rau tươi thành nhiều nhóm: nhóm rau xanh như rau cải, rau muống, rau xà lách, rau cần…; nhóm rễ củ như cà rốt, củ cải, su hào, củ đậu…; nhóm cho quả như cà chua, cà bát, cà pháo, dưa chuột…; nhóm hành gồm các loại hành, tỏi,.v.v…

Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy lượng protid và lipid trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất xenluloza.

Một đặc tính sinh lý quan trọng của rau tươi là chúng có khả năng gây thèm ăn; và ảnh hưởng tới chức phận tiết của tuyến tiêu hoá. Tác dụng này đặc biệt rõ rệt ở các loại rau có tính tinh dầu; như rau mùi, rau thơm, hành, tỏi…Ăn rau tươi phối hợp với những thức ăn nhiều protid, lipid, glucid làm tăng rõ rệt sự tiết dịch của dạ dày.

Cùng tìm hiểu sâu hơn về các loại rau phổ biến trong bài dưới đây.

Rau ngót – Loại rau xanh quen thuộc trong bữa cơm người Việt

Rau ngót còn gọi là bồ ngót, bù ngót, hắc diện thần (Trung Quốc). Tên khoa học Sauropus androgynus(L) Merr. Thuộc họ Thầu dầu- Euphorbiaceae. Cây nhỏ nhẵn, có thể cao tới 1,5 – 2m. Có nhiều cành mọc thẳng,  cao  từ 0,9 – 1m.

Rau ngót là một trong những loại rau quen thuộc trong bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam.  Trong 100g rau ngót tươi có chứa hơn 86% là nước, 5.3% protein; còn lại là gluxit, chất xơ và các thành phần khác.

Loại rau xanh quen thuộc trong bữa cơm người Việt

Rau ngót cung cấp nhiều loại vitamin và khoáng chất khác nhau; như canxi, sắt, mangan, phốt pho, vitamin C, Vitamin nhóm B, Beta-caroten. Trong dân gian thường sử dụng làm các món canh, giúp thanh nhiệt, bổ dưỡng.

Rau được sử dụng như một vị thuốc trong một số trường hợp; như chữa tưa lưỡi ở trẻ em, chữa sót nhau… Với phụ nữ mang thai cần lưu ý; rau ngót có chứa một lượng papaverin – một chất gây co thắt cơ trơn tử cung; có thể gây sẩy thai, do đó phụ nữ mang thai nên kiêng cữ.

Rau đắng – Rau xanh tốt cho sức khỏe

Ở nước ta, có 2 loại là rau đắng đất và rau đắng biển. Mỗi loại có những ưu điểm riêng. Rau đắng trong bữa ăn thường sử dụng cả phần lá và thân. Một số địa phương có cách ăn khác như ăn như rau sống, nhúng sơ với nước sôi rồi xào với tỏi, hay luộc chín ăn.

Về dược tính, có sự khác nhau cơ bản giữa rau đắng biển và rau đắng đất. Rau đắng đất có tính mát, vị đắng, có khả năng thanh nhiệt tiêu độc, lợi tiểu, tiêu thũng. Người dân thường dùng để sắc uống chữa ho; trị các chứng tiểu gắt buốt, đi cầu khó. Rau đắng biển có nhiều chất có lợi cho sức khỏe như: các loại alkaloid và saponin. Rau đắng biển tác động tích cực với hệ thần kinh; tăng cường khả năng tỉnh táo, giảm căng thẳng mệt mỏi….

Một số nghiên cứu cho thấy, rau đắng có chứa các chất có tác dụng gây co bóp tử cung; tăng thời gian đông máu, làm tăng nguy cơ sảy thai, xuất huyết. Ăn nhiều rau đắng trong một bữa ăn có thể tốt cho người bị táo bón; nhưng đối với người bình thường hoặc người có hệ tiêu hóa kém, sẽ gây ra tình trạng tiêu lỏng.

Rau muống

Rau muống là cây thân thảo, thường mọc bò trên mặt nước hoặc trên cạn. Thân rỗng, dày, có nhiều đốt, có rễ ở các đốt, mặt ngoài nhẵn. Thân thường không có lông vào mùa nóng và có lông vào mùa lạnh. Lá rau muống có hình ba cạnh, đầu ngọn, đôi khi lá có thể thon dài, hẹp. Phiến lá dài 7 – 9cm, rộng 3.5 – 7cm, cuống lá thường nhẵn, không có lông dài khoảng 3 – 6mm. Ngoài các giống rau muống có sẵn ở Việt Nam, ngày nay một số giống rau muống cao sản được nhập và trồng ở nước ta nên có nhiều hình thái thực vật khác biệt.

Giá trị của rau xanh

Thành phần dinh dưỡng trong 100g rau muống tươi có 94% là nước; còn lại các thành phần như protein, gluxit, chất béo, chất xơ… Rau muống có chứa nguồn vitamin và khoáng chất đa dạng; như sắt, đồng, magie, kẽm, các vitamin C, K, E, nhóm B. Rau muống có chứa beta-caroten với hàm lượng khá cao (5597 microgram/100g).

Theo Đông y, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh; (khi nấu chín thì lạnh giảm) đi vào các kinh tâm, can, tiểu trường, đại trường. Rau muống có công năng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, lợi thủy, giải độc; khi cơ thể bị xâm nhập các chất độc của nấm độc, cá, thịt độc, khuẩn độc, hoặc độc chất do côn trùng…

Rau muống có thể làm mất công dụng một số loại thuốc; cho nên cần thận trọng khi dùng.

Giá trị của rau xanh – Rau mồng tơi

Mồng tơi có tên khoa học là Basella alba L, đây là một loại cây dây leo phổ biến ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Do có đặc tính phân bố sinh thái ở các vùng nhiệt đới nóng ẩm nên ta có thể bắt gặp ở một số nơi như: Ấn Độ, châu Phi, Philippines và các nước Đông Nam Á. Cây có khả năng sinh trưởng mạnh, mọc hoang trong tự nhiên, hoặc được trồng để thu hoạch như một loại rau ăn hàng ngày, chứ chưa được sử dụng như một loại thuốc.

Rau xanh tốt cho sức khỏe

Rau mồng tơi khá dồi dào vitamin và khoáng chất. Nổi bật nhất là hàm lượng sắt, canxi, vitamin A, C và các vitamin nhóm B. Đây là những yếu tố vi lượng cần thiết cho cơ thể, giúp nâng cao sức đề kháng cũng như có giá trị trong một số vấn đề về sức khỏe. Một thành phần dễ nhận thấy trong rau mồng tơi là chất nhầy, có ích đối với người mắc chứng táo bón. Sử dụng rau mồng tơi thường xuyên giúp cung cấp nguồn chất nhầy cho hệ tiêu hóa, kích thích nhu động ruột, giảm tình trạng táo bón.

Truy cập HHI để cập nhật những thông tin bổ ích và mới nhất nhé!

Nguồn: suckhoedoisong.vn